CỤC HẢI QUAN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

ĐOÀN KẾT - KỶ CƯƠNG - SÁNG TẠO
VÌ SỰ PHÁT TRIỂN CỦA CỤC HẢI QUAN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CÂU HỎI THƯỜNG GẶP (FAQ)

Là doanh nghiệp chế xuất; hình thức kê khai nộp thuế GTGT.
Tháng 9/2018 vừa qua, Chi cục Kiểm tra sau thông quan có đến kiểm tra việc xuất nhập tồn hàng hóa trong 5 năm gần đây và chúng tôi bị truy thu nộp thuế nhập khẩu & thuế GTGT vì đã để chênh lệch âm giữa tồn kho thực tế với số liệu khai báo hải quan. Do sai sót, công ty khai báo nhiều mã sản phẩm có định mức thấp hơn thực tế (định mức chưa bao gồm hao hụt), thậm chí có nhiều mã sản phẩm khai báo hao hụt là 0%, nhưng thực tế luôn có hao hụt, dẫn đến có sự khác biệt giữa định mức chung khi khai báo với thực tế sử dụng (định mức chung thấp hơn thực tế sử dụng), gây ra chênh lệch âm giữa tồn kho thực tế & số liệu khai báo hải quan (số liệu thực tế ít hơn). Công ty chúng tôi không bán nguyên liệu hoặc sản phẩm vào thị trường nội địa, công ty nhập khẩu nguyên liệu để sản xuất hàng xuất sản phẩm qua thị trường Nhật Bản. Do vậy, Công ty kính đề nghị Cục Hải Quan Thành Phố Hồ Chí Minh cho biết : việc ấn định thuế nhập khẩu và thuế GTGT đối với công ty TNHH TF (Việt Nam) có đúng hay không? Vì công ty không kê khai thuế GTGT nên cũng sẽ không được khấu trừ. Mặt khác, bản chất thuế GTGT và thuế nhập khẩu chỉ tính khi bán ra thị trường nội địa Việt Nam.

            * Việc ấn định thuế nói trên đối với Doanh nghiệp là đúng quy định hiện hành.

                 Các căn cứ trong hoạt động quản lý về hải quan đối với nguyên liệu vật tư nhập khẩu để sản xuất xuất khẩu và Doanh nghiệp Chế xuất:

             - Khoản 1 Điều 29 Luật hải quan số 54/2014/QH13;

     (Điều 29 quy định về Khai hải quan)

              - Khoản 3 Điều 25 Nghị định số 08/2015/NĐ-CP bổ sung tại khoản 12 Điều 1 Nghị định số 59/2018/NĐ-CP;

      (Điều 25 quy định về Khai hải quan)

               - Khoản 1 Điều 2; khoản 1 Điều 18; khoản 1 Điều 70; khoản 1 Điều 74; khoản 1 Điều 75 Thông tư số 38/2015/TT-BTC đã được sửa đổi bổ sung tại Thông tư số 39/2018/TT-BTC;

                    (Điều 2 - Thông tư số 38/2015/TT-BTC quy định về quyền nghĩa vụ của người khai hải quan; Điều 18 quy định về Khai hải quan; Điều 70 quy định về thủ tục nhập khẩu Nguyên liệu vật tư và xuất khẩu sản phẩm; Điều 74 và 75 quy định về các nguyên tắc chung và thủ tục hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu của Doanh nghiệp chế xuất).

  Theo đó:

   Hàng hóa là Nguyên liệu vật tư (NLVT) nhập khẩu để sản xuất xuất khẩu của Doanh nghiệp Việt Nam nói chung, của Doanh nghiệp chế xuất (DNCX) nói riêng là đối tượng phải thực hiện thủ tục hải quan, phải “khai đầy đủ, chính xác, rõ ràng về tên và mã số hàng hóa, đơn vị tính, số lượng, trọng lượng, chất lượng, xuất xứ…..và chịu trách nhiệm trước pháp luật về các nội dung đã khai”, và phải chịu sự kiểm tra giám sát hải quan; phải thực hiện kê khai và báo cáo nguyên liệu, vật tư nhập khẩu theo đúng loại hình quy định và phải tự chịu trách nhiệm trước Pháp luật về nội dung đã khai báo.

   Nguyên liệu vật tư do DNCX thực hiện nhập khẩu, xuất khẩu phục vụ sản xuất xuất khẩu thuộc “đối tượng không chịu thuế” vẫn phải làm thủ tục hải quan và chịu sự kiểm tra, giám sát hải quan theo quy định chung về loại hình nhập SXXK; không có quy định riêng về thủ tục hải quan cho đối tượng DNCX và miễn làm thủ tục đối với hàng hóa là NLVT phục vụ sản xuất xuất khẩu. Hàng hóa thuộc “đối tượng không chịu thuế” phải đảm bảo các điều kiện tuân thủ pháp luật về nội dung khai báo và làm thủ tục với cơ quan hải quan; cơ quan hải quan thực hiện việc quản lý giám sát chủ yếu là gián tiếp thông qua hồ sơ hải quan, nội dung khai báo về hàng hóa và mục đích sử dụng NLVT nhập khẩu để sản xuất xuất khẩu; Người khai hải quan phải có trách nhiệm quản lý và khai báo với cơ quan hải quan chính xác về chủng loại, số lượng NLVT nhập khẩu; số lượng tồn thực tế tại Công ty. Khi có biến động, thay đổi nội dung đã khai hải quan (Quyết toán với cơ quan hải quan), Công ty có trách nhiệm khai bổ sung. Có chênh lệch mà không khai báo với cơ quan hải quan theo quy định là người khai hải quan đã không thực hiện nghĩa vụ theo pháp luật của mình.

   * Căn cứ xử lý kết quả kiểm tra sau thông quan khi phát hiện chênh lệch NLVT phát sinh chênh lệch:

   Trong câu hỏi, doanh nghiệp đã xác định “do sai sót, Công ty khai báo nhiều mã sản phẩm có định mức thấp hơn thực tế…..gây ra chênh lệch âm giữa tồn kho thực tế và số liệu khai báo hải quan…chúng tôi không bán Nguyên liệu hoặc sản phẩm vào thị trường nội địa….”.

  Do sai sót trong quản lý đã để phát sinh chênh lệch nguyên liệu vật tư nhập khẩu để sản xuất xuất khẩu, thì lượng phát sinh tồn âm được hiểu là thất thoát NLVT và doanh nghiệp không chứng minh được đã được dùng NLVT để sản xuất hàng xuất khẩu, nên không còn là NLVT thuộc đối tượng được miễn thuế nữa.

               Theo kết quả kiểm tra sau thông quan thì cơ quan Hải quan cũng không kết luận doanh nghiệp bán nguyên liệu hay sản phẩm vào thị trường nội địa nên bản chất của việc ấn định thuế không phải với lý do là bán nguyên liệu hay sản phẩm vào thị trường nội địa.

  Trong quá trình kiểm tra sau thông quan, doanh nghiệp đã không giải trình được lượng NLVT chênh lệch giữa tồn kho và lượng tồn khai báo (giữa báo cáo tồn khi thực tế và báo cáo nhập xuất tồn).

  Về vấn đề khấu trừ thuế GTGT đề nghị Doanh nghiệp căn cứ Điều 12 Luật Thuế GTGT số 13/2008/QHH12 được sửa đổi bổ sung tại Luật số 31/2013/QH1.

  Căn cứ khoản 3 Điều 79 Luật hải quan số 54/2014/QH13:

  a) Trường hợp thông tin, chứng từ, tài liệu được cung cấp và nội dung đã giải trình chứng minh nội dung khai hải quan là đúng thì hồ sơ hải quan được chấp nhận;

  b) Trường hợp không chứng minh được nội dung khai hải quan là đúng hoặc người khai hải quan không cung cấp hồ sơ, chứng từ, tài liệu, không giải trình theo yêu cầu kiểm tra thì cơ quan hải quan quyết định xử lý theo quy định của pháp luật về thuế, pháp luật về xử lý vi phạm hành chính.

  Căn cứ mục c khoản 2 Điều 37; khoản 1 Điều 39; khoản 6 Điều 108  Luật quản lý thuế số 78/2006/QH11 ngày 29/11/2006; khoản 3 Điều 35; mục a khoản 3 Điều 33 Nghị định số 83/2013/NĐ-CP ngày 22/7/2013 để thực hiện ấn định thuế theo quy định. Theo Điều 59 Thông tư số 38/2015/TT-BTC được sửa đổi sung tại khoản 38 Điều 1 Thông tư  số 39/2018/TT-BTC, thì:

    a) Trường hợp kiểm tra xác định việc sử dụng nguyên liệu, vật tư, máy móc, thiết bị nhập khẩu phù hợp với sản phẩm xuất khẩu, định mức thực tế, phù hợp với thông tin thông báo cơ sở sản xuất, năng lực sản xuất, phù hợp với chứng từ kế toán, sổ kế toán, báo cáo quyết toán tình hình sử dụng nguyên liệu, vật tư, hồ sơ hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu của tổ chức, cá nhân: Chấp nhận nội dung khai hải quan, số liệu thực tế kiểm tra, ban hành kết luận kiểm tra;

    b) Trường hợp kiểm tra xác định việc sử dụng nguyên liệu, vật tư, máy móc, thiết bị nhập khẩu không phù hợp với sản phẩm xuất khẩu, định mức thực tế, không phù hợp với thông tin thông báo cơ sở sản xuất, năng lực sản xuất, không phù hợp với chứng từ kế toán, sổ kế toán, báo cáo quyết toán tình hình sử dụng nguyên liệu, vật tư, hồ sơ hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu của tổ chức, cá nhân: Cơ quan hải quan không chấp nhận nội dung khai hải quan và căn cứ hồ sơ hiện có để quyết định ấn định thuế và xử lý vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật.

    Việc xử lý kết quả kiểm tra quy định tại điểm a, điểm b khoản này được áp dụng cho cả trường hợp khi xử lý kết quả kiểm tra báo cáo quyết toán, kiểm tra sau thông quan, thanh tra chuyên ngành về tình hình sử dụng nguyên liệu, vật tư;

     Căn cứ ấn định thuế:

             - Theo quy định tại mục c khoản 2 Điều 37 Luật quản lý thuế số 78/2006/QH11 ngày 29/11/2006; khoản 3 Điều 35 Nghị định số 83/2013/NĐ-CP ngày 22/7/2013: “Tài liệu và kết quả kiểm tra, thanh tra còn hiệu lực”;

             - Theo quy định tại mục a khoản 3 Điều 33 Nghị định số 83/2013/NĐ-CP ngày 22/7/2013: “…; không kê khai hoặc kê khai không đầy đủ, chính xác các nội dung liên quan đến xác định nghĩa vụ thuế”;

              - Theo quy định tại khoản 1 Điều 39 Luật quản lý thuế số 78/2006/QH11 ngày 29/11/2006.

1 13 << < 1 2 3 4 5  ... > >>